Chuyển đến nội dung chính

La bàn Kỳ Châm Bát Pháp - Thất Châm Bát Pháp


La bàn có nhiều vòng khác nhau, có vòng thì phối bát quái, âm dương, ngũ hành, đối với khí trường thì cảm ứng chỉ bắc đối nam rất nhạy, Thánh Hiền xưa chiếu theo thiên trì mà làm việc, lấy đó mà suy luận sự phát sinh biến hóa của khí trường, tức là Kỳ Châm Bát Pháp`.
1.Đường Châm:
Khi kim cứ lay động không yên, không quy về trung tuyến. Đoán rằng nơi đó có quái thạch sâu bên dưới, ở đó tất có họa, nếu kim tại Tốn Tỵ Bính vị mà bồng bềnh, thì rất dễ phía dưới 9 thước có vật dụng xưa, ở đó dễ xuất người nam nữ tửu sắc, thầy bà, cô quả bần hàn.
2.Đoái Châm:
Đầu châm bỗng ngóc lên, cũng gọi là phù châm, đó là vì âm khí giới nhập, nếu chẳng phải tổ tiên nhà đó cũng là, phúc thần hộ pháp.
3.Trầm Châm:
Đầu châm bỗng hạ xuống, đó là do âm khí giới nhập, đó là âm mà không ác âm, cũng là oan hồn uổng tử, hoặc chết không bình thường, là do họ cảm mà ra như vậy.
4.Chuyển Châm:
Chỉ châm chuyển mà không dừng. Ác âm giới nhập, đó là khí oán hận liên tục không dừng, ở đó tất gặp tai họa.
5.Đầu Châm:
Chỉ châm nửa nổi nửa chìm, hoặc nửa nổi mà không đến đỉnh, chìm cũng không đến đáy. Dưới đất có mộ phần, ở đó tất hay khóc nhiều, nên đề phòng quan tư khẩu thiệt.
6.Nghịch Châm:
Châm quy trung tuyến nhưng không thuận, hoặc châm tà phi. Đất đó tất xuất hiện người ngỗ nghịch, bại cả người lẫn tiền bạc, phong thủy nói không được.
7.Trắc Châm:
Châm mà dừng yên tĩnh, nhưng không quy về trung tuyến. Đất đó vốn là Thần Đàn Cổ Tháp, nhà ở không được.
8.Chính Châm:
Không dị dạng, không nghiêng không lệch, đất đó là đất chính thường, đất đó có thể đắn đo châm chước mà dùng.
Kỳ Châm Bát Pháp là giải thích rõ ràng các lực khí quái dị, nên Phong Thủy Địa Sư khi thăm khám đất không thể không biết.
>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
THẤT CHÂM BÁT PHÁP
Bạn dùng la kinh, bạn đã biết "Thất châm bát pháp" chưa? "Kỳ châm bát pháp"chỉ là phụ nhé!
Sau đây lão "hủ nho" này xin được giới thiệu đến các bạn, còn nội dung thì xin khất ạ.
THẤTCHÂM
-Nhất đường, nhị đoái, tam khi.
-Tứ thám, ngũ một, lục toại, thất trắc.
BÁT PHÁP
-Thanh bàn pháp
-Thác bàn pháp
-Cách sơn chiếu pháp
-Thánh mễ chưởng bàn pháp
-Tỵ tà pháp
-Phòng sư pháp
-Xuất sát pháp
-Thất tinh truy nguyệt pháp
Xung quanh cái la kinh cũng còn nhiều điều bí ẩn và thú vị phải không bạn?
"LA KINH TẠI THỦ, VẠN SỰ VÔ ƯU"
Bạn nghe thấy bao giờ chưa?

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

LỜI CẢM ƠN

Chào các bạn! Ngày 07 và 08.02.2015 vừa qua, tại quán cafe Mộc - 299 Cầu Giấy - Hà Nội, Diễn đàn Lý Số Việt ( http://lysoviet.vn ) đã tổ chức thành công chương trình LUẬN GIẢI HUYỀN HỌC GIÚP ĐỠ NGƯỜI NGHÈO ĐÓN TẾT ẤT MÙI! Chúng tôi rất vinh dự nhận được sự hợp tác tư vấn của các nhà nghiên cứu, các bạn tình nguyện viên, các nhà hảo tâm và đông đảo các bạn say mê học thuật phương đông tới tham dự. Chương trình luận giải học thuật từ lâu đã là một bản sắc đặc trưng của diễn đàn Lý Số Việt, thông qua chương trình mà các nhà nghiên cứu khắp nơi có dịp hội tụ, giao lưu và chia sẻ kiến thức học thuật, quảng bá được văn hóa phương đông tới đại bộ phận quần chúng, mặt khác, chương trình cũng mang một ý nghĩa nhân văn hết sức to lớn, đó là hoạt động vì cộng đồng, giúp đỡ những người nghèo khó có động lực và ý chí vươn lên thoát nghèo, đồng thời gieo vào họ những mầm thiện để họ thấy rằng trên đời này vẫn còn rất nhiều những trái tim nhân ái bên cạnh họ, khuyên họ không vì chút khó khăn nhất thờ...

NGUYÊN LÝ KHỞI LỆ CỦA TUẾ ĐỨC HỢP

"Khảo Nguyên" nói rằng: "Tuế đức hợp, đúng là can ngũ hợp với Tuế đức. Năm Giáp tại Kỷ, năm Ất tại Ất, năm Bính tại Tân, năm Đinh tại Đinh, năm Mậu tại Quý, năm Kỷ tại Kỷ, năm Canh tại Ất, năm  Tân tại Tân, năm Nhâm tại Đinh, năm Quý tại Quý. Vì vậy, Tuế đức thuộc dương, Tuế đức hợp thuộc âm". Xét Tuế đức hợp đều thuộc về thượng cát, chỉ có nghi, không có kị. Như vậy, cặn kẽ suy ra nghĩa của nó có chia ra cương, nhu riêng biệt. Tuế đức không cần hỏi là năm dương hay năm âm đều là thời cương, Tuế đức hợp không cần hỏi năm âm hay năm dương đều là thời nhu. Việc bên ngoài lấy cương, việc bên trong lấy nhu, đó là ghi chép từ thời cổ. (1) Tuyển trạch gia tuy chưa luận tới như thế, khi dùng có thể lấy ý mà thông vậy. Thích ý Tuế đức với Tuế đức hợp đều thuộc về thượng cát thần, chỉ có nghi, không có kị. Nhưng hai cái đó thì cương nhu không giống nhau....

KHÔNG GIAN - THỜI GIAN TRONG HỌC THUYẾT PHONG THỦY

Phong thủy học là một bộ môn nghiên cứu và dự trắc có tính quy luật dựa trên yếu tố không gian và thời gian. Vì vậy nếu chỉ chú trọng vào không gian sống, về bố cục nội thất, ngoại thất không thôi thì chưa đủ, cho nên cần phải tính đến yếu tố thời gian để định được thời kỳ thịnh - suy của trạch vận. Về lý thuyết, thời gian được sinh ra từ sự vận động của vũ trụ, là một khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của sự vật, sự kiện và khoảng kéo dài của chúng. Cho nên học thuyết Phong thủy rất coi trọng yếu tố thời gian khi xét đoán trạch vận của một ngôi nhà. Thời kỳ nào thịnh, thời kỳ nào suy, tất cả phải dựa vào bố cục không gian của ngôi nhà đó kết hợp với thời gian thì mới rõ được. Vậy Phong thủy học kết hợp hai yếu tố Không gian - Thời gian bằng cách nào? Để giải quyết vấn đề Không gian, Phong thủy học chia vòng tròn không gian 360 độ thành 8 hướng, mỗi hướng 45 độ, gồm: Đông, đông nam, nam, tây nam, tây, tây bắc, bắc, đông bắc. Trong tám hướng đó, mỗi hướng lại chia thành 3 cung, mỗi c...